Triển vọng cho các loại tiền dự trữ quốc tế dựa trên rổ tiền tệ BRICS

Rate this post

(thitruongtaichinhtiente.vn) – Vào tháng 6, Tổng thống Nga Putin tiết lộ rằng việc tạo ra đồng tiền dự trữ quốc tế dựa trên rổ tiền tệ của các nước BRICS đang được thảo luận. Tổng thống Nga cũng lưu ý thêm rằng, cùng với các đối tác BRICS, các cơ chế thanh toán quốc tế thay thế đáng tin cậy đang được xây dựng. Mikhail Shulgin, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu toàn cầu của Otkritie Investments, đã có một cuộc thảo luận chi tiết hơn về kế hoạch phát hành tiền tệ mới của các nước BRICS.

BRICS là tên của khối bao gồm các nền kinh tế mới nổi lớn bao gồm Brazil về tài chính và cơ sở hạ tầng cho các loại tiền tệ riêng lẻ của các quốc gia BRICS. Giá trị quan trọng trong môi trường hiện tại là bảo vệ các nước BRICS khỏi những rủi ro liên quan đến thanh toán bằng USD và euro.

Các nước BRICS, với nguy cơ bị trừng phạt, có động cơ “phi đô la hóa” thanh toán quốc tế để giảm rủi ro theo nhiều cách. Trong lịch sử, cả 5 thành viên của khối đều phải chịu các lệnh trừng phạt của Mỹ. Sự bất mãn chung của 5 nước thành viên sẽ là động lực mạnh mẽ để họ hành động theo hướng “phi đô la hóa”.

Ngân hàng Phát triển Mới (NDB), ngân hàng phát triển đa phương của các nước BRICS, rất có thể trở thành nhà phát hành đồng tiền chung BRICS. NDB đã huy động vốn bằng đồng tiền của các nước trong khối, đưa ra chương trình cho vay bằng các đồng tiền này. Chương trình này không chỉ giúp các nước thành viên giảm thiểu rủi ro ngoại hối mà còn hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong nước. Theo cơ cấu cổ đông hiện tại của NDB, mỗi nước BRICS sở hữu khoảng 20% ​​cổ phần. NDB đã đóng băng mọi hoạt động với Nga sau khi chiến dịch quân sự ở Ukraine diễn ra. Vào tháng 3 năm 2022, Fitch xếp hạng NDB ở mức AA +, hạ triển vọng xếp hạng từ ổn định xuống tiêu cực.

Lịch sử đã biết nhiều ví dụ về “tiền tệ siêu quốc gia”, cả thành công (SDR, ECU) và không thành công (Sucre). Tất nhiên phải kể đến “đồng rúp có thể chuyển nhượng”, đồng tiền thanh toán bù trừ đa phương, cũng là phương tiện thanh toán và tích lũy để thực hiện thanh toán đa bên của các nước thành viên Hội đồng tương trợ. Kinh tế (SEV). Đồng rúp chuyển nhượng được sử dụng từ năm 1964 đến năm 1990. Tổ chức phát hành đồng rúp chuyển nhượng là Ngân hàng Hợp tác Kinh tế Quốc tế (IBEC).

Mặc dù thực tế là dự án này đã thành công, đồng tiền dự trữ mới của BRICS hầu như không giống với đồng rúp có thể chuyển nhượng. Giá trị của đồng rúp có thể chuyển nhượng được duy trì cố định trong một khoảng thời gian nhất định và điều này dựa trên giá cả hàng hóa trong một nền kinh tế ổn định. Trên thực tế, đồng rúp có thể chuyển nhượng được hỗ trợ không phải bằng vàng, mà bằng sức mua tương đương hoặc bằng cách so sánh giá của cùng một loại hàng hóa và dịch vụ bằng đồng tiền này và bằng đồng tiền quốc gia.

Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của sự vận động xuyên biên giới của hàng hóa, dịch vụ, vốn và dân cư, tỷ giá hối đoái của các đồng tiền quốc gia luôn biến động, do đó các đồng tiền siêu quốc gia không thể ổn định lâu dài. Nó phải được điều chỉnh. Mặt khác, giả sử, khi đồng real Brazil trở nên rẻ hơn nhiều, trong khi tỷ giá hối đoái của đồng tiền dự trữ BRICS (nếu nó được tạo ra theo cách tương tự với đồng rúp có thể chuyển nhượng) ổn định, thì người mua từ các quốc gia BRICS khác sẽ cố gắng mua hàng hóa ở Brazil bằng cách chuyển đổi tiền tệ của họ sang tiền thật và không thông qua hệ thống thanh toán bù trừ đa phương được cung cấp bởi các loại tiền tệ siêu quốc gia. Do đó, tỷ giá của tiền tệ siêu quốc gia nên được gắn với tỷ giá của tiền tệ quốc gia. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc hình thành tiền tệ dự trữ trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước BRICS. Và đây hoàn toàn không phải là đồng rúp có thể chuyển nhượng. Nó giống như ECU (tiền thân của đồng euro), SDR.

Theo Shulgin, lịch sử phát triển của hệ thống tiền tệ thế giới đã cho thấy rõ sự phụ thuộc quá nhiều vào một đồng tiền quốc gia cụ thể trong một thời gian dài dẫn đến tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ở đó, xuất hiện một loại tiền tệ như SDR.

Do đó, một loại tiền dự trữ mới không thể được xây dựng dựa trên một loại tiền cụ thể của quốc gia, chẳng hạn như đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, làm tiền tệ cơ bản. Ngoài ra, việc xây dựng một đồng tiền dự trữ trên cơ sở một loại tiền tệ duy nhất đòi hỏi phải có khả năng chuyển đổi và lưu thông tự do, điều mà cho đến nay chưa có loại tiền tệ của quốc gia nào khác thực hiện được.

BRICS cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu. Điều này ngụ ý rằng tỷ trọng tiền tệ của mỗi quốc gia BRICS phải là đáng kể, không mang tính biểu tượng.

Về mặt kỹ thuật, để tạo nền tảng cho tiền dự trữ và công thức tính toán của nó với phân bổ trọng lượng hiệu quả là một nhiệm vụ hoàn toàn khả thi, thậm chí có thể thực hiện được trong thời gian tương đối. ngắn. Vấn đề quan trọng là động lực của các nước BRICS và tính cấp thiết của đồng tiền dự trữ. Nga rõ ràng có động cơ để đối phó với sức ép ngày càng tăng từ các nước phương Tây. Thặng dư thương mại khổng lồ của Nga được cân bằng bởi dòng vốn chảy ra, điều không thể có trong thực tế ngày nay. Động lực của các thành viên còn lại của BRICS cho đến nay vẫn còn mơ hồ.

Các thành viên BRICS không có chung quan điểm về phi đô la hóa ở cấp độ nhóm, cũng như họ không có chung ý thức cấp bách phải ưu tiên phi đô la hóa. Tất cả đều quan tâm đến việc giảm sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ, nhưng không phải tất cả đều muốn thoát khỏi hệ thống tài chính toàn cầu do Mỹ dẫn đầu. Hầu hết các thành viên BRICS vẫn giữ một lượng lớn tài sản bằng USD trong kho dự trữ của họ, vì vậy đồng đô la suy yếu cũng gây tổn hại cho họ.

Kết quả là, các quốc gia BRICS đang phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan rằng mặc dù họ muốn có một giải pháp thay thế cho đồng đô la, nhưng việc phá giá đồng đô la cũng sẽ làm giảm giá trị của một lượng lớn tài sản bằng đô la của họ. họ.

“Các quốc gia cần đạt được sự cân bằng giữa mong muốn có ảnh hưởng quốc tế lớn hơn và quyền tự chủ tài chính và các chi phí vật chất của việc làm suy yếu sự thống trị của đồng đô la. Sự cân bằng này là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với BRICS mà còn có ý nghĩa chính trị trực tiếp đối với các quốc gia khác và các tổ chức khu vực, ”Shulgin kết luận.

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.