Ý nghĩa sâu xa và công đức của Tâm Kinh

Rate this post

Người Phật tử còn tại thế nghĩa là còn sống với thế gian. Không thể tách rời cuộc sống tu hành để đạt được giác ngộ, nghĩa là phải kết hợp hài hòa với thế gian như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói. Sống trên con đường của những người giàu có.

>> Quý phật tử có thể đọc loạt kinh phật

Công đức của Tâm Kinh

Vì thực hành quán chiếu Bát nhã có công đức lớn như vậy, nên so với công đức quán chiếu thì hai bên ngang nhau. Ảnh: Internet

Kế đến là câu: Đại tri túc Bát nhã ba la mật đa, đại trí đại trí, thần chú vô song, thần chú vô song, khả năng tiêu trừ mọi khổ đau, chân lý không hư hoại. Nghĩa là: Vì vậy, biết rằng Bát nhã ba la mật đa, là đại thần chú, là thần chú vô thượng, là thần chú vô song, thì tất cả khổ ách đều có thể diệt trừ, chân thật không sai.

Mantra là một bản dịch của từ thần chú trong tiếng Phạn, chúng tôi gọi nó là thần chú. Theo nghĩa hẹp, thần chú là cầu đảo, khi đọc lên có ý nghĩa rất huyền bí, có tác dụng cải biến các hiện tượng tự nhiên, cả tốt lẫn xấu. Theo nghĩa rộng và chân chính của nó, thần chú là thứ khiến chúng ta phải suy nghĩ, có khả năng nắm bắt mọi ý nghĩa, làm tiền đề để chúng ta tham khảo, từ đó sinh ra mọi công đức. sử dụng phép thuật. Theo nghĩa này, thần chú thuộc một trong bốn loại dharani, tức là: Dharma dala ni, nghĩa là dala ni, người dala ni, và thần chú mandala ni. Thần chú trong bài kinh này thuộc loại thần chú dharani. Dharani là từ tiếng Phạn dhārani, dịch nghĩa là Tổng trì, có nghĩa là sức mạnh để giữ cho các pháp lành không bị phân tán, và ngăn không cho các pháp ác phát sinh.

Đại thần chú có nghĩa là thần chú lớn, tức là có thần lực rất lớn, có thể di chuyển, thay đổi vạn vật. Thực hành quán chiếu Bát nhã đánh thức trí tuệ. Vì vậy, sinh tử biến thành Niết bàn, phiền não biến thành Bồ đề, nên nói là đại thần chú. Thần chú trí tuệ đó ​​soi sáng vô minh, tiêu trừ phiền não, nên nói là thần chú lớn, nghĩa là thần chú vô cùng sáng ngời. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được Vô thượng Niết bàn, cho nên mới nói thần chú là vô thượng, tức là không có gì cao siêu hơn thế. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà Ngài chứng được Vô thượng Bồ đề, nên nói là vô song, nghĩa là không có ai sánh bằng.

Vì thực hành quán chiếu Bát nhã có công đức lớn như vậy, nên so với công đức quán chiếu thì hai bên ngang nhau. Vì vậy, Đức Phật đã tán thán và tôn vinh việc thực hành như một câu thần chú. Và nhờ có công đức như vậy nên mọi khổ đau phiền não đều được tiêu trừ. Cũng bởi vì công đức đó là kết quả của công đức trên thực tại, nên một lần nữa khẳng định là thật, vì không phải là dối nên không phải là dối, là lừa.

✅ Xem thêm: những điều kiêng kỵ khi xăm bùa Thái

Ý nghĩa sâu xa của Tâm Kinh

Điều chính yếu khi tụng chú là phải thành tâm.  Bạn càng thành tâm thì sẽ càng có hiệu quả, bởi vì công dụng chính của việc trì tụng thần chú là để loại bỏ tạp niệm.  Nếu ý nghĩ có thể bị phá hủy, thân và tâm sẽ được bình an.  Do đó, có linh nghiệm không thể nghĩ bàn.
Điều chính yếu khi tụng chú là phải thành tâm. Bạn càng thành tâm thì sẽ càng có hiệu quả, bởi vì công dụng chính của việc trì tụng thần chú là để loại bỏ tạp niệm. Nếu ý nghĩ có thể bị phá hủy, thân và tâm sẽ được bình an. Do đó, có linh nghiệm không thể nghĩ bàn.

Câu kế tiếp và cũng là câu cuối cùng của Tâm Kinh là: Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức là thuyết về Thần chú, viết: Chưa hết, chưa, Paralyte, Paramountain, và bồ tát. . Dịch nghĩa: Vì vậy, nói câu thần chú Prajnaparamita, sau đó ông ấy nói câu thần chú: Tuy nhiên, chưa, chưa, trong Nghịch lý, trong Bát nhã, và trong Bồ tát bồ tát.

Lý thuyết về thần chú Prajnaparamita có nghĩa là chúng ta nên nói thần chú Prajnaparamita, điều này cho chúng ta biết rằng việc quán chiếu Bát nhã tất nhiên có công đức tương đương với thần chú. Công dụng tuyệt vời của pháp môn này cũng không thể nghĩ bàn. Vì vậy, cần phải thực hành thần chú Prajnaparamita.

Đó là, lý thuyết mà bạn viết, nghĩa đen là bạn nói nó. Nhưng để diễn tả được hiệu quả linh ứng khôn lường đó, tôi nghĩ mình nên dịch câu này là: Tôi đáp ngay rằng ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong đoạn văn này sẽ được tiết lộ. Và đó là cách nó được gọi là tinh thần, là điều kỳ diệu.

Mantra là một ngôn ngữ bí mật (mật từ). Đó là một bí mật, làm thế nào để giải thích? Tuy nhiên, dựa vào cấu trúc, có thể suy ra đại khái nghĩa của một số từ. Ví dụ, với câu thần chú này, ý nghĩa của nó không quá khó.

Tuy nhiên, trong tiếng Trung Quốc được dịch nghĩa là mức độ, từ tiếng Phạn ban đầu được đọc là cổng, có nghĩa là vượt qua, vượt qua. Quy tắc được lặp lại hai lần có nghĩa là nó dành cho chính mình và cho những người khác. Ba vua, từ paragate có nghĩa là vượt qua bờ bên kia. Ba la mật tăng căn, là do phiên âm của từ Paraamgate, có nghĩa là sang bờ bên kia hoàn toàn. Bồ đề là giác ngộ. Tát Ba ha do phiên âm của từ svaha có nghĩa là anh ta nói tốt. Toàn bộ câu trong Phạm viết như sau: Gate Gate Pàragate Pàrasamgate Bodhi Svaha. Như vậy, ý nghĩa của toàn bộ câu thần chú có thể được tạm dịch như sau: Vượt qua, vượt qua, đi đến bờ bên kia, vượt qua bờ bên kia hoàn toàn và bạn sẽ đạt đến giác ngộ. Anh ấy đã khéo léo nói như vậy.

Bản dịch nghĩa đen của câu thần chú là như trên, nhưng tác dụng của câu thần chú hoàn toàn không nằm ở ý nghĩa hay lý do. Vì vậy, việc hiểu ý nghĩa hay lý do chẳng có ích lợi gì cho bạn. Điều chính yếu khi tụng chú là phải thành tâm. Bạn càng thành tâm thì sẽ càng có hiệu quả, bởi vì công dụng chính của việc trì tụng thần chú là để loại bỏ tạp niệm. Nếu ý nghĩ có thể bị phá hủy, thân và tâm sẽ được bình an. Do đó, có linh nghiệm không thể nghĩ bàn. Còn chú giải Bát nhã ở trên, lợi ích cuối cùng là đưa chúng ta nhanh chóng đến bến bờ giác ngộ.

Người Phật tử còn tại thế nghĩa là còn sống với thế gian.  Không thể tách rời cuộc sống tu hành để đạt được giác ngộ, nghĩa là phải kết hợp hài hòa với thế gian như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói.  Sống trên đời giàu sang phú quý, như Phật dạy Phật pháp không ly thế gian.  Hình minh họa
Người Phật tử còn tại thế nghĩa là còn sống với thế gian. Không thể tách rời cuộc sống tu hành để đạt được giác ngộ, nghĩa là phải kết hợp hài hòa với thế gian như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói. Sống trên đời giàu sang phú quý, như Phật dạy Phật pháp không ly thế gian. Hình minh họa

Trên đây là những luận điểm được trình bày để góp phần hiểu rõ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Kinh này do Đức Thế Tôn thuyết, nhưng điều đầu tiên Ngài nói với Bồ tát Quán Thế Âm hay Avalokitesvara là Bồ tát nhờ thực hành sâu sắc Bát nhã ba la mật mà đã thấy được chân lý của các pháp và đạt được giác ngộ. Chứng đắc Bồ-đề và chư Phật ba đời đều nương vào Pháp Bát Nhã để đạt đến giải thoát và giác ngộ, tức là chứng được quả vị vô thượng, và khuyên tất cả chư Phật mau chóng tu hành vì lợi ích của kinh điển. còn Chú Bát Nhã thì rất hữu ích đến cùng, giúp người tu hành nhanh chóng đến được bến bờ giác ngộ.

Nếu bạn là một Phật tử, bạn nên biết một số câu thần chú thường được trì tụng hàng ngày trong sách Thần chú, trong đó có các bài kinh như Kinh A Di Đà, Kinh Phổ Môn, Tám Điều, và Kinh Bát Nhã. , Kinh Bổn Sư, Kinh Sám Hối, Kinh Vu Lan, Kinh Địa Tạng, v.v .. tất cả những kinh hàng ngày này, trước khi tụng phần sám hối hay hồi hướng thì hãy tụng Tâm Kinh rồi tụng chú. sự tái sinh. Tại sao như vậy? Vì Đức Phật muốn cho người Phật tử hiểu rõ con đường giải thoát, giác ngộ phải vượt qua muôn vàn chướng ngại, cần phải tụng Tâm Kinh để vượt qua, vượt qua, đến bờ bên kia, vượt qua. Nếu bờ bên kia không còn nữa thì sẽ đạt được giác ngộ.

Chỉ có tụng Tâm Kinh mới mở ra con đường cho chúng ta sám hối những nghiệp xấu kiếp trước và có đủ nhân duyên hồi hướng cho các bậc Thiện Thánh, Hộ Pháp, Thần Long và tất cả chúng sinh trong mọi cõi.

Đối với những người tu theo pháp môn Tịnh độ là pháp đơn giản và phù hợp nhất với nhiều người, họ thường chuyên niệm Phật. Đạo tràng A Di Đà theo pháp môn Tịnh độ, thường có khóa tu niệm Phật công phu, tụng kinh chỉ nghi thức tán thán, lễ niệm, lễ Phật, sau đó niệm Phật, sám hối, hồi hướng, 12 chữ. nguyện thì Tam tự xuất gia là hết. Tôi nghĩ, trong nghi lễ này, nên tụng thêm Tâm Kinh và chú vãng sanh đầy đủ hơn thì sẽ có hiệu quả hơn trên con đường chứng đạo để đạt đến nguyện vọng vãng sanh như đã phân tích ở trên.

Tất nhiên, với điều kiện người niệm Phật phải đầy đủ tín, nguyện, hạnh phải sốt sắng, chí thành, không ngừng. Niệm Phật trong pháp môn này phải đạt đến trình độ niệm như vô niệm, phù hợp với pháp bất nhị và tánh không trong Tâm Kinh, mới đạt được đạo và quả. Còn vọng tưởng, tâm còn vọng tưởng, vọng tưởng thì trái với ý nghĩa của giáo lý Đại thừa trong Tâm kinh mà tất cả các tông phái, kể cả Thiền tông, Tịnh độ tông hay Mật tông đều hiểu biết như nhau. phải đề cập đến. Tất nhiên, bất kỳ pháp tu nào cũng phải đạt đến tâm trống không, tâm không, vô ngã và thực sự thay đổi hành giả.

Trước khi đạt đến điểm có trí tuệ siêu việt để bước sang bờ bên kia, giải thoát và giác ngộ, tức là chứng ngộ Bát nhã, người Phật tử tất nhiên phải đạt được sự thay đổi về trí tuệ và con đường. đức độ, tính tình, thay tâm đổi tính, phải hiểu rõ nguyên lý nhân quả, luật nhân quả, biết thân người hiếm có, đời người vô thường, hiểu rõ những nỗi khổ trong sinh tử, thực hành mười điều lành tức là mười điều lành. những việc làm thể hiện trong cuộc sống hàng ngày trong cuộc sống hàng ngày.

Người Phật tử còn tại thế nghĩa là còn sống với thế gian. Không thể tách rời cuộc sống tu hành để đạt được giác ngộ, nghĩa là phải kết hợp hài hòa với thế gian như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói. Sống ở thế gian giàu sang phú quý, như Phật dạy Phật pháp không ly pháp thế gian ..

Trên đây là một số suy nghĩ góp phần hiểu được giá trị và nội dung sâu sắc của giáo lý trong Tâm Kinh.

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.