Tình yêu nối hai biên giới – Bài 1

Rate this post

Khu vực biên giới xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Hạnh Quỳnh / TTXVN

60 năm – hai dân tộc Việt Nam – Lào sống đoàn kết, thương yêu như anh em với nhau. Tình yêu thương từ trái tim ấy không chỉ là sức mạnh giúp hai nước, hai dân tộc kề vai, sát cánh chiến đấu, đánh bại mọi kẻ thù, xây dựng xã hội mới mà còn trở thành hình mẫu của tình hữu nghị quốc tế. đoàn kết đặc biệt, chung thủy trong sáng, hợp tác cùng phát triển, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Và ngày nay, tình cảm giữa nhân dân hai nước, nhất là dọc biên giới chung càng thêm thắm thiết. Tình cảm đó bền bỉ, góp phần đưa quan hệ hữu nghị Việt – Lào lên tầm cao mới.

Nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Lào (5/9/1962 – 5/9/2022), phóng viên TTXVN thực hiện loạt bài “Mối lương duyên nối liền hai biên giới”.

Bài 1: Khi máu đỏ Việt – Lào hòa quyện

Vì tình yêu sâu đậm giữa hai đất nước, đã có nhiều người Việt Nam – Lào đã vượt qua khoảng cách địa lý, biên giới để trở thành vợ chồng. Họ sinh con đẻ cái và cùng nhau lập nghiệp ở vùng biên ải. Và khi dòng máu đỏ đen của hai dân tộc Việt – Lào hòa quyện vào nhau thì tình cảm của những người dân vùng biên giới hai nước cũng thêm thiêng liêng, thủy chung.

Tình yêu ở biên giới

Chị Hồ Thị Mây, 42 tuổi, vui vẻ ngồi giữa ngôi nhà sàn ở thôn A Dơi Đỏ, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Nơi đây đã gắn bó với cô 23 năm, kể từ khi người phụ nữ Lào có gương mặt hiền hậu, đôi mắt đen sâu hút hồn này về làm dâu Việt. Cửa chính nhà May nhìn ra con đường bê tông dài gần 1km vào thôn, theo chuẩn nông thôn mới. Hai bên đường là những ngôi nhà sàn bên rẫy sắn, chuối xanh mướt. Trên nóc một số ngôi nhà, cờ đỏ sao vàng tung bay nổi bật trên nền trời xanh. Phía sau tháng 5, khung cửa sổ nhìn ra dòng sông Sê Pôn với những ngôi làng Muang Samoyay (tỉnh Savanakhet, Lào) quần tụ dọc theo bờ sông.

Hồ Thị Mây nói tiếng Việt rất tốt. Theo lời kể của chị, mối quan hệ vợ chồng với anh Hồ Văn Danh, 38 tuổi, ban đầu chỉ là lời hứa của cha mẹ. Dù cha của May và cha của Danh sống ở hai bên biên giới nhưng do tình nghĩa sâu nặng giữa hai nước, quen biết nhau từ thuở nhỏ nên họ thường xuyên qua lại sông Sepon để thăm nhau. Khi bố Danh ốm nặng, hai bên gia đình cưới Mây và Danh.

“Lần đầu đến Việt Nam, tôi cũng nhớ nhà, nhớ Lào, nhớ người thân. Tuy nhiên, quê hương, nhà chồng chỉ cách nhau một con sông, phong tục tập quán, văn hóa cũng gần gũi. gần gũi. tình cảm, tình yêu thương vợ con. Giờ đây, Việt Nam đã trở thành máu thịt của mình ”, bà Hồ Thị Mây chia sẻ.

Nghe vợ chia sẻ về mối quan hệ Việt – Lào, anh Hồ Văn Danh, Trưởng thôn A Dơi cho biết: Kết hôn năm 1999 theo phong tục, tập quán địa phương của hai nước, đến năm 2012 thì được cấp phép. giấy đăng ký kết hôn. Năm 2019, May được nhập quốc tịch Việt Nam.

Bên nhau hàng chục năm, niềm vui và hạnh phúc của hai vợ chồng là thói chăm học, chăm ngoan của cả 4 người con gồm ba trai, một gái. Hiện tại, kỳ vọng của họ đặt vào tương lai tươi sáng của cậu con trai lớn – Hồ Văn Tài, hiện đang là sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.

“Bố mẹ không được học cao nên cuộc sống khó khăn, năm 2021, Tài thi đỗ đại học, hai vợ chồng bán bớt 20 con bò để lo cho con ăn học, dù khó khăn nhưng vẫn phải lo cho con ăn học. Học thì phải cố gắng để những vất vả của cha mẹ không lặp lại trong cuộc đời của con cái ”, anh Hồ Văn Danh chia sẻ.

Nụ cười và giọng nói ấm áp của trưởng bản A Dơi Đỏ dẫn đến câu chuyện về sự thân thiện, gắn bó của những con người bên bờ sông Sê Pôn, nơi đã “xóa nhòa” ranh giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào. Trong suy nghĩ của họ, trước đây nhân dân hai nước kề vai sát cánh đánh thắng giặc ngoại xâm thì nay phải biết chung sức xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, khi người dân A Độ Đài khá lên nhờ trồng chuối, họ liền “chỉ đường” giúp đỡ anh chị em bên Lào. Chính sự chân thành đó đã góp phần tạo nên sự thay đổi lớn trong tư duy kinh doanh của nhiều hộ gia đình trên khắp Sepon. Cũng chính tình yêu ấy đã góp phần tạo nên một tình cảm vô cùng đặc biệt giữa nhân dân hai nước.

“Trong số 157 hộ với gần 780 nhân khẩu của A Dơi Đỏ, có 30 cặp vợ chồng Việt – Lào như gia đình tôi. Hiện 20 người trong số họ đã được cấp giấy đăng ký kết hôn và nhập quốc tịch Việt Nam ”, ông Hồ Văn Danh cho biết.

Chú thích ảnh
Vợ chồng anh Hồ Văn Danh và chị Hồ Thị Mây trò chuyện với Bộ đội Biên phòng Quảng Trị. Ảnh: Hạnh Quỳnh / TTXVN

Vun đắp tình đoàn kết

Nói về mối quan hệ Việt – Lào, Trung tá Trần Đức Tú, Chính trị viên Đồn Biên phòng Lầu Ba (Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị) cho biết, đơn vị quản lý hơn 18 km đường biên giới hai bên. Ba Tầng, xã A Dơi huyện Hướng Hóa. Gần đây, tại bản A Dơi xã A Dơi có một bộ phận người Lào trong quá trình sinh sống đã nảy sinh quan hệ yêu đương, kết hôn với người Việt. Đến năm 2019, có 242 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

“Mối quan hệ giữa nhân dân hai bên biên giới đã được thiết lập và duy trì từ lâu đời. Nhân dân hai bên đoàn kết, tin tưởng và hiểu nhau. Cuộc hôn nhân này càng làm sâu sắc thêm tình bạn tốt đẹp đó ”, Trung tá Trần Đức Tú nói.

Hoàng Kỳ, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị, cũng cho biết, hiện toàn tỉnh có 756 trường hợp người Lào di cư tự do vào Việt Nam sinh sống tại 2 huyện Đakrông và Hướng Hóa đã được nhập quốc tịch Việt Nam. . Nam theo quy định. Sau khi hoàn thành thủ tục hộ tịch, hộ khẩu cho các trường hợp này, các cơ quan liên quan cũng đã giải quyết các thủ tục, chế độ khác như cấp chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, thẻ BHYT, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất …

Chuyện tình xuyên biên giới của Hồ Văn Danh – Hồ Thị Mây và hàng trăm cặp đôi Việt – Lào, nên mối lương duyên của đôi trai gái không chỉ ở bên bờ Sê Pôn. Với hơn 2.300 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam, tiếp giáp với 10 tỉnh biên giới của Lào, bản Gà trống của hai nước luôn có mối quan hệ khăng khít. Tình cảm ấy càng thêm bền chặt bởi hàng nghìn cặp đôi Việt – Lào, Lào – Việt đã “yêu” nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Ở Việt Nam, đối với những người đủ điều kiện nhập quốc tịch, Đảng và Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, tạo điều kiện thuận lợi để họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng và được hưởng các quyền lợi khác. chính sách, và được hưởng các quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Như tại tỉnh Sơn La, theo Giám đốc Sở Tư pháp Trần Thị Minh Hoa, thời gian qua, đoàn công tác liên ngành của tỉnh Sơn La đã làm việc với một số tỉnh của Lào như Louangphabang, Houaphanh để đối chiếu, thống nhất. danh sách người di cư tự do kết hôn không giá thú khu vực biên giới hai bên. Sơn La đã hướng dẫn lập hồ sơ nhập quốc tịch cho 299 trong tổng số 350 trường hợp đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo hiệp định.

“Việc công nhận quốc tịch và cấp giấy đăng ký kết hôn cho các trường hợp này có ý nghĩa rất lớn trong việc vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai địa phương, chung sức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. ”- Bà Trần Thị Minh Hoa khẳng định.

Bài 2: Ấm và lạnh có nhau

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.