Cao nguyên Quyên ghi lại dấu vết từ vùng đất hoang

Rate this post

Nhà thơ – Đại tá Cao Nguyên Quyên dường như đã bị “ép” vào thơ từ đầu năm 2018, khi anh chạm đáy nỗi cô đơn của kiếp người. Ra mắt độc giả vào tháng 10 năm 2021, “Mù tạt Cẩm Thủy” là một bài thơ sáng tạo, mới lạ trên nền tảng truyền thống và bản sắc văn hóa Mường cộng với bản chất anh bộ đội Cụ Hồ … Tây Nguyên Mặc dù Quyên là một nhà thơ mới, nhưng tâm hồn của người lính già ấy như một chiếc ăng-ten nhạy bén thu nhặt mọi dư âm của cuộc đời, mọi ngóc ngách nỗi buồn vui của kiếp người cô đơn …, tạo nên những quy luật nghệ thuật. nghệ thuật riêng với phong cách ngôn ngữ thơ độc đáo, nhiều ẩn ý … !!!

Tập thơ “Rêu Cẩm Thủy” của Cao Nguyên Quyên.

“Cẩm Thủy rêu phong” là một chất riêng, hấp dẫn lạ lùng, cuốn hút người đọc về một vùng quê mà Cao Nguyên Quyên gắn bó cả đời. Thơ ông đã tìm ra con đường nói lên sự thật, tôn trọng tự do tuyệt đối về tình cảm, cảm xúc và suy nghĩ về những giá trị nhân văn, những điều tốt đẹp của thế giới con người. Thơ Cao Nguyên Quyên hơi lạ về câu chữ, hơi lạ về tư duy, có những cách diễn đạt, câu văn, thi ảnh rất “dị”: “Cõi thần tiên – anh về / Bếp đông tay / ta vơi đi nếp nhăn. / dày ”(Thắp sáng cho ngày xa) hay“ Cánh đồng trẻ thơ / Những ngày buộc trâu gác chân / Một gánh khoai / Chiều nhem nhuốc… ”(Thu quê).

Nhà thơ Cao Nguyên Quyên đang thả mình vào không gian tự do của cảm xúc và suy nghĩ, không bị bó buộc trong vần điệu, nhịp điệu… Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, ta vẫn thấy có một nhịp điệu nội tâm của bài thơ. linh hồn, mà vần điệu của họ được bắt vào nhau rất tinh tế. Những câu thơ cô đọng, vừa giản dị vừa đa thanh luôn gợi cho người đọc những điều gì đó về tâm trạng, tình cảm, sự rộng mở liên tưởng và suy tư. Chẳng hạn “hình dáng như cán thuổng, cán thuổng” – một vùng quê khốn khó, nhà cửa lác đác, cũ nát… Tất cả những điều ấy hiện ra sau lớp ngôn từ tưởng như cằn cỗi. Từ đó, hình ảnh thơ đánh thức một ngày xưa văn học trong sáng và những kỉ niệm trong trẻo về một đứa trẻ Mường chỉ biết chơi với núi, chơi với sông, lăn với rêu xanh, mơ với sương trắng.

Trong thơ ông, hình ảnh buổi chiều còn được gợi lên và ngôn ngữ nghệ thuật miêu tả khá mới mẻ: “Dâm đãng, thê lương, bồng bềnh” khiến người đọc hình dung buổi chiều thật đẹp và thơ mộng. không tí nào. Vì vậy, sự sáng tạo, tìm kiếm mới theo con người của nhà thơ luôn khiến nhà thơ mở ra để sáng tạo ra những từ ngữ và hình ảnh mới. Nhìn chung, thơ Cao Nguyên Quyên dường như vẫn theo những vần thơ quen thuộc, vẫn gắn bó đời thường với những sự vật, hiện tượng, núi non sông nước, cỏ cây, quê hương… nhưng lại đầy sức gợi bao suy tư, tình cảm. mở ra nhiều hiệp hội.

Trong “Cẩm Thủy Sương Mù” có nhiều câu thơ rất ngắn, ba chữ, hai chữ, thậm chí một chữ. Tuy nhiên, đoạn ngắn này đồng điệu với nhịp điệu tâm hồn của tác giả. Điều này không bao giờ do kỹ thuật thơ mang lại, mà do hồn thơ khởi lên đột ngột – điều mà nhiều nhà thơ lớn thường nói là do ma, quỷ, hoặc xui, đất gây ra …: “Khi mặt trời mỏi gác ngày núi / vầng hào quang lắc lư trên đầu / Đầu ngón tay / đêm rạch / cấy / mùa !!! ” (Đêm đồng). Tuy nhiên, điều kỳ lạ là dòng cảm xúc, nhịp sống của tâm hồn anh vẫn không đứt đoạn, luôn chảy thành dòng, có thể to, có thể trầm, và vẫn hoàn toàn nhất quán.

Ta đã bắt gặp một không gian nghệ thuật rất riêng, một thế giới ý thức và vô thức xa lạ, một cái tôi thơ tưởng già mà rất trẻ, tưởng trẻ nhưng rất mê tín, khao khát: “Lúng liếng / Vỡ chân xế chiều / Mò lộc cốc. / Đưa hoàng hôn về làng / Om om tiếng kèn / Thắt lưng đá thơm / Sương bàng bạc thơ / Quay hồn quanh thung núi… ”(Sương núi).

Đọc “Nỗi buồn của Cẩm Thủy”, những lát cắt của nỗi buồn dường như đã rơi thành nhiều mảnh nhỏ. Và, những mảnh ghép nhỏ ấy cứa thẳng vào tâm hồn tôi: “Bóng lưng cong cong cười nụ cười / tiếng cười phẳng lặng / chỉ còn những đốm xanh suy tư / ngày mai / ngày mai… !!!” (Sống mòn). Dường như tất cả Những mảnh vỡ đó kéo dài thành một chuỗi chứa những nút thắt với khoảng cách không đều nhau … Đó là điều lạ mà tôi ít thấy ở các tập thơ khác, có lẽ từ khi yêu thơ, đọc thơ đến giờ, tôi mới thấy có vài bài thơ như thế. ..? Điều kỳ diệu là Cao Nguyên Quyên có một nỗi đau: “Kim góa chồng đã lâu / chỉ còn lại đôi bàn tay rối rắm / Cô liêu trong đêm / Vỡ rồi treo lặng lẽ / Chênh vênh trải dài theo tháng năm” ( Áo thị)) … Hóa ra, nỗi buồn của một bộ phận người gắn chặt với những gì cụ thể, giản dị, thân thương nhất và cả với khát vọng, ước mơ và lối sống của một đời thơ …

Lạc vào giữa “Nhà mênh mông / âm u tịch mịch / đêm khuya mài lõi sầu / lo âu / từng sợi ren, từng sợi ren cuộn quanh đỉnh trời / Cõi thần tiên – anh về / cái bếp đóng băng tay anh / Em lệch nếp nhăn / dày vò ”(Thắp cho ngày xa). Từng hơi thở, từng nhịp đập, không ai có thể nghe thấy, có lẽ chỉ có bạn – người đã rời xa thế giới này, mới có thể hiểu được. Sự cô quạnh của những ngày mưa, nỗi buồn trong tiếng côn trùng đêm khuya, sự trống trải vô nghĩa của một thế giới bên kia … đã giằng xé và chối bỏ nhau trên những dòng thơ tình Tây Nguyên nghẹn ngào. Sự cho phép. Thơ Cao Nguyên Quyên đã nghĩ ra cái lạnh để sưởi ấm trái tim mình và cũng là lòng người đọc: “Kinh hoàng trên đường nét bàn tay / Cỏ gai chẳng thương mình” (Lục bát ngày mưa); “Anh có yêu em nói thật không / em có muốn làm vợ không / hãy nói cho em biết để anh yên tâm” (Pông poong mùa cồng chiêng gọi). Ta nghe nhịp đập tâm hồn trong thơ Cao Nguyên Quyên thường được diễn tả bằng hai hình ảnh rất chủ quan, đó là “phu thê” và “cô đơn”. Nó đã góp phần quan trọng tạo nên một “bản thể” kỳ lạ, để anh được chọn như nhà thơ Võ Sa Hà đã nhận xét ở lời mở đầu bài thơ: “Nỗi đau mất đi người bạn đời thân yêu và nỗi cô đơn trong cuộc đời chính là ngôi nhà của anh. điều đó tưởng chừng đã làm anh gục ngã …? Nhưng không phải! Thơ đã kéo anh dậy, làm sống lại thể thơ trong anh !!! “.

Ngay từ nhan đề bài thơ, anh đã thấy thôi thúc nhỏ bé phải viết về Cẩm Thủy. Tên bài thơ là Rêu và Sương mang nhãn hiệu Cẩm Thủy …, khiến người đọc liên tưởng … Cẩm Thủy là gì? Cẩm Thủy ở đâu? Rêu sương Cẩm Thủy là gì? Tại sao nhan đề bài thơ lại có thứ ở dưới đáy lòng đất nối với thứ ở trên cùng? Đúng như những câu thơ: “Lùm xùm xập xình / xập xình – lạc lõng / trâu ngập ngõ / Đỉnh Lân Ái

dội về / Pang Pốp (**) bay đi / Ôi ôi ôi ôi! / Ôi ôi ôi ôi! / Hồn cô khôn / Hồn cà kheo thao thức! / hãy về đi, về đi / … ” (Quay lại thôi bà Um).

Tây Nguyên Quyên được sống và yêu thương tại quê hương: hai xã Cẩm Giàng cộng Cẩm Tú – Cẩm Thủy – Thanh Hóa. Nơi đây – vùng bán sơn địa đậm đà văn hóa Mường với kho tàng nghệ thuật dân gian đặc sắc. Từ nhỏ, cậu bé Cao Nguyên Quyền đã được lớn lên trong những câu hát Mo, tục ngữ, thành ngữ Mường, hát ru, dân ca, … và nhiều lễ hội Mường. tuyệt vời: Lễ Pop-poong; mừng cơm mới; Chính vì vậy, ông đã đưa những giá trị văn hóa ấy vào thơ ca Việt Nam một cách tinh tế và giàu sức gợi: “Một vùng bán sơn địa / Lẻ loi hàng chục tầng lầu / Nghèo khó nên gọi: Làng Gấm / hình tay cầm mai, cán thuổng / sông núi xiên xiên / … Câu con ướt / ta lớn áo đàn ông / quần vá áo / sớm yêu! Hũ nước làm gương ”(Những kỷ niệm về làng tôi).

Cao Nguyên Quyên bị ám ảnh bởi nền văn hóa lâu đời và bền vững của dân tộc mình. Khi anh làm thơ, tất cả những yếu tố văn hóa đó được hồi sinh, đánh thức một cách mãnh liệt và mãnh liệt. Chính điều đó đã khiến thơ ông luôn gợi mở cho người đọc những điều tưởng như đã khuất lấp với thời gian. Hơn nữa, khi đọc thơ của ông, thị giác, khứu giác, vị giác, thính giác và thậm chí cả xúc giác đều được kích thích. Ta có thể cảm nhận được hình ảnh đa chiều của Quê hương: “Mẹ bọc ngọc / Với giọt mặn cay / Thêm này! Hương đất / Thành phố xanh ngây ngất (Bánh Chưng của mẹ); Cơm vừa ôi thiu / Đường đi xa, bữa cơm tạm bợ tháng năm … !!! / Chiều chiều tạc dáng mẹ cong / Bao nhiêu tượng võng mất đi tiếc nuối. ”(Giấc mơ giữa trưa).

Không ít lần ông đứng nơi đất khách quê người và trăn trở, day dứt trước thảm cảnh của đại dịch COVID-19: “Ôi núi mòn hơi thở / Hỡi hồn ai lưng còng / Ôi dòng sông buồn thế kỷ / Yên bình đổ nát …” ( Lửa đen).

Hình ảnh, biểu tượng và tình cảm của người Tây Nguyên đã được lồng ghép với những giá trị sâu sắc, bền bỉ của bản Mường, dân tộc mình, nhưng vẫn đậm đà văn hóa Việt trong sự hòa nhập tuyệt vời của 54 dân tộc anh em trên đất khách. đất việt nam này. Cuốn “Sương Mù Cẩm Thủy” mới in được 45 bài về chủ đề Rêu và sương Mường Cẩm Thủy. Đó là ẩn ức, trăn trở về quê hương, về số phận con người dựa trên một cách diễn đạt khác của chính mình.

Bài và ảnh: Nguyễn Như

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.