Chuyện bỏ trống đề thi năm xưa

Rate this post

Câu chuyện đó đã được hai tác giả Phạm Đình Hổ và Nguyễn Ân ghi lại trong tập ký sự “Tang thương ngẫu lục”, hoàn thành vào đầu đời vua Gia Long nhà Nguyễn.

Nguyễn Trác là người có thật, theo tài liệu sau này, ông sinh năm 1573, quê ở làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa), ​​thi đỗ Tiến sĩ khoa thi Quý Hợi (1623) dưới Vua Lê Thần Tông.

Theo câu chuyện đầy màu sắc huyền thoại trong “Mãng thượng thập lục”, khi còn trẻ, Nguyễn Trác thi đỗ khoa Hương rồi bỏ học từ lâu, không nhìn vào sách vở nữa.

Sau khi cảm ơn chủ phong thủy muốn hiến đất để lập khoa tiến sĩ, nhưng ông lại cảm ơn rằng: “Giàu sang thì ai mà chẳng muốn, nhưng tôi đã bỏ học từ lâu rồi. , Tôi không dám hy vọng nữa. Điều đó một lần nữa “. Tuy nhiên, sau khi được giao đất, Nguyễn Trác cũng bất đắc dĩ nghe theo lời thầy địa lý mà lên kinh đô dự thi.

Những ngày chuẩn bị vào trường thi, anh cùng một vài người quen ở chung nhà; vào trường thứ nhất, trường thứ hai nhờ có sự giúp đỡ nên đã thắng. Trong trường học thứ ba, anh ta nhặt được một mảnh giấy, mà anh ta đã sao chép chính xác.

Thứ tư mấy ngày trước khi đến trường, bạn cùng phòng đều ra ngoài lấy tiền mua đồ đi học, ban ngày hắn ở nhà trọ ngủ, mơ thấy có thần nói mấy câu: “Kình! Khương! ” . Khi tỉnh dậy, anh ta nghĩ: “Kường phải gừng!”.

Ngày nhập học, anh mang gừng vào, lúc đó trong tiết trời xuân se lạnh, anh đang ở trường, nhóm lửa đun nước để giữ ấm. Đến tối, bên cạnh có một thí sinh đang chống chọi với cơn đau bụng, nghe nói đó là một bạn đồng môn ở làng Bột Thái.

Anh đun nước gừng để uống. Theo câu chuyện này, trong trường thi, thí sinh phải tự lo cho mình, từ thức ăn đến thuốc men. Các giám thị và nhân viên tuần tra chỉ phải giữ trật tự, không cho phép thí sinh chạy từ lều này sang lều khác, hỏi han lẫn nhau.

Nhờ có sự chăm sóc của Nguyễn Trát, người lính đó mới tỉnh lại, lấy ra một cuốn sách văn học và nói: “Đó là bài văn mà tôi yêu thích nhất, nhưng nó chưa được đặt tên, xin hãy trả lại. Mong anh mang ra khỏi trường, dù nếu bạn chết, bạn sẽ không phải lo lắng về nó nữa. ” Anh làm theo lời anh. Ra trường, người học trò họ Mộ lại lâm bệnh và qua đời.

Sau đó, anh giành chiến thắng trong cuộc thi, gây náo động dư luận thủ đô. Tiết lộ. Triều đình bãi bỏ kỳ thi đình. Sử sách ghi lại, sau khi vụ giả mạo này bị phát giác, triều đình đã hủy bỏ kỳ thi đình, rồi cho những người đoạt giải theo bảng Hội trở về danh giá, không được ghi tên trên bảng vàng.

Một truyền thuyết khác kể rằng trong kỳ thi Đình, mỗi thí sinh phải làm 7 quyển văn. Quyển thứ 7, Nguyễn Trác không làm được bài nên đành bỏ giấy trắng mà nộp. Nghĩ rằng Nguyễn Trác kiêu căng, nộp giấy trắng, triều đình giận lắm, định treo bảng vàng không cho đỗ.

Tuy nhiên, lúc bấy giờ trong triều có biến, chúa Trịnh Tùng ốm nặng nên giao quyền cho con trưởng là Trịnh Tráng. Một người con khác của chúa là Trịnh Xuân đem quân tranh giành quyền lực với anh mình, trận chiến gây hỗn loạn kinh thành, Trịnh Tráng vội vàng đưa vua Lê Thần Tông vào Thanh Hóa.

Về điều này, văn bia ghi tên tiến sĩ khoa thi Quý Hợi (1623) tại Văn Miếu, Hà Nội (theo bản dịch của Viện Hán Nôm) có ghi rằng: “Đến mùa hạ tháng 6, năm đối mặt với sấm chớp, mưa gió, các quan văn võ tạm gồng gánh thập phương trở về quê hương để củng cố nền tảng, hòa hợp lòng dân để đất nước ngày một tươi sáng.

Trong lúc loạn lạc, Nguyễn Trác đã có công lớn khi phò vua về Thanh Hóa nên sau đó được bỏ qua hình phạt. Cuối cùng, ông vẫn được trao học vị tiến sĩ.

Do những biến động của lịch sử, bia khoa thi năm 1623 mãi đến năm 1653 mới được dựng lên, vì bia được dựng sau kỳ thi 30 năm nên các sự kiện ghi chép lại có lúc bị sửa chữa, hoặc do Nguyễn Trác là một quan lớn trong triều, các vấn đề cũng đã được viết ra.

Tuy nhiên, văn bia cũng miêu tả cụ thể chi tiết về kỳ thi năm đó: “Các học sĩ trong nước dự thi hơn 3.000 người, chọn ra 7 người xuất sắc. Vào một ngày lành tháng 4, mùa hạ, Hoàng Thượng ngự sử ở cửa.” của Điện Kính Thiên, đăng bài và sách ở sân rồng Trong lúc học trò làm bài, có cụ Nguyễn Trát viết sai quy cách nên chỉ xem lại 6 cuốn.

Các chủ sở hữu công ty đã đề nghị cuốn sách để đọc. Thượng hoàng trị vì, lấy Phùng Thế Trung làm thứ nhất, 6 người còn lại đều đỗ Tiến sĩ đồng. Và xét theo lệ cũ, những người được vào thi Đình không bị loại nên vẫn để Nguyễn Trác đỗ chót bảng, cả thảy 7 người. Chính vì thế, việc kéo dài danh phận, thậm chí cả việc cấp mũ, ban lễ, phong tước cũng chưa được thực hiện theo lệ cũ. Khi đó, tất cả các bậc minh triết trong nước đều khó chịu trong lòng ”.

Như vậy, việc Nguyễn Trác không được duyệt cuốn sách thi thứ 7 là có thật, và những giai thoại nói rằng ông “bỏ bài, không phục” có lẽ chỉ là bịa đặt.

Bởi lẽ, văn bia của vị khoa bảng này đã nhận xét về tài năng của những người đỗ đạt đó: “Hãy coi đây là một khoa. Những người xuất thân từ khoa này đều là những người học giỏi, uyên thâm. Có người giữ được việc công, quản quan. chỉnh đốn lại chính quyền, một số người ở địa vị thấp nhưng bàn bạc đúng mực, đúng đắn, một số người chỉ giữ việc quân sự và hoạch định sách lược, một số người nắm trong tay dây cương và theo sát cổ họng.

Những người học hành giỏi giang, tài hoa, uyên bác, tuấn tú tài giỏi, văn chương lừng lẫy thiên hạ, nhưng sự nghiệp thì rực rỡ cả đời, chẳng có gì để nhớ nhung? “. Bài văn miêu tả” ai đó nắm giữ dây cương mà theo sát ”để tả thành công của Nguyễn Trát, lẽ nào cũng phải chăng?

Vì khoa thi này thời bấy giờ không treo bảng vàng, nên vua sai chép tên tiến sĩ vào sách “Đăng khoa lục” theo lệ của Hội, và treo bảng vàng ở đình Quảng Văn. để viết tên của mình.

Sau này, Nguyễn Trác làm quan đến chức Sở khoa bảng. Ông tuy không nổi tiếng về văn chương nhưng lại có lòng thương dân, là một vị quan thanh liêm, dân chúng yêu mến gọi ông là Quan Nghè Nguyệt Viên.

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.