Chuyên gia RMIT: Trợ giá xăng dầu không phải là giải pháp tối ưu

Rate this post

(TBTCO) – Trong bối cảnh giá xăng dầu tăng cao kỷ lục, TS Bùi Duy Tùng, giảng viên khoa Kinh tế Đại học RMIT cho rằng, để hạ giá xăng dầu có hai giải pháp tạm thời là giảm thuế và trợ giá xăng dầu. Tuy nhiên, việc trợ giá xăng dầu không phải là giải pháp tối ưu.

Không trợ giá xăng dầu

Theo TS Bùi Duy Tùng, Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô nhưng lại nhập khẩu xăng dầu thành phẩm. Do đó, giá xăng dầu ở Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào giá thế giới. Chắc chắn khi giá xăng dầu tăng sẽ kéo theo giá các mặt hàng khác tăng theo tính chất truyền tải.

Hình minh họa

Hiện chưa báo cáo được tác động gián tiếp của giá xăng dầu đến lạm phát ở nhóm hàng có tỷ trọng chi tiêu lớn như hàng ăn, dịch vụ ăn uống và nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng. được thể hiện rõ ràng. Tác động gián tiếp của giá xăng dầu đến lạm phát tuy có tác động chậm lại, nhưng tác động này sẽ không nhỏ nếu giá các nhóm hàng chính tăng mạnh.

Để hạ giá xăng dầu có hai giải pháp tạm thời là giảm thuế và trợ giá xăng dầu. Tuy nhiên, TS Tùng cho rằng, việc trợ giá xăng dầu không phải là giải pháp tối ưu.

Về vấn đề giảm thuế, theo TS Tùng, trong các loại thuế đánh vào giá xăng dầu, thời điểm này Nhà nước cần xem xét giảm thêm thuế bảo vệ môi trường để hỗ trợ người dân. Chính phủ cần hỗ trợ người dân bằng cách giảm bớt những khoản chi không thực sự cần thiết để cân đối ngân sách. Ngoài ra, Việt Nam vẫn đang xuất khẩu dầu thô. Giá dầu thô tăng sẽ bù đắp được phần ngân sách bị mất khi Chính phủ hỗ trợ người dân. Như vậy, Chính phủ vẫn có thể tính toán lại nguồn thu và nhiệm vụ chi trong bối cảnh lạm phát trong tương lai.

Về chính sách trợ giá xăng dầu, mới đây, Malaysia, Indonesia và một số quốc gia khác đã thực hiện trợ giá xăng dầu cho người dân. Bình luận về chủ trương này, TS Tùng cho rằng các nước phương Tây có câu thành ngữ “Không có bữa trưa miễn phí”. Điều này tương tự với chính sách trợ giá xăng dầu. Chính sách này không hoàn toàn “miễn phí” đối với nền kinh tế. Trợ cấp xăng dầu có thể khiến mọi người cảm thấy cuộc sống “nhẹ nhàng” hơn trong chốc lát. Tuy nhiên, chính người dân – hay con cái của họ sẽ là những người gánh chịu hậu quả trong tương lai. Những hậu quả lâu dài thường tinh tế hơn những lợi ích ngắn hạn.

“Nhà nước dùng tiền đâu để trợ giá? Tất nhiên là ngân sách nhà nước. Hãy coi ngân sách nhà nước như một miếng bánh. Nếu Nhà nước cắt miếng bánh lớn để trợ giá xăng dầu thì phần chi còn lại như giáo dục, y tế, quốc phòng sẽ bị thu hẹp. Nếu ngân sách không đủ thì Nhà nước phải đi vay để bù giá. Ai sẽ trả nợ? Đó là con người của tương lai – con em chúng ta bây giờ ”- TS Tùng phân tích.

Chuyên gia RMIT cho biết, trong một nghiên cứu mới nhất, các nhà kinh tế Malaysia đã chỉ ra rằng chính sách trợ giá xăng dầu ở nước này đang tạo ra gánh nặng cho chính sách tài khóa tại đây. Thâm hụt tài chính ở Malaysia sẽ trở nên không bền vững (có nguy cơ vỡ nợ) nếu chính phủ tăng nợ để trợ giá xăng dầu. Nghiên cứu cũng khuyến nghị Chính phủ Malaysia nên xóa bỏ chính sách trợ cấp để ổn định kinh tế vĩ mô.

Tránh đầu tư dàn trải trong thời kỳ lạm phát

Theo TS Tùng, một trong những hệ quả của việc giá xăng dầu tăng cao là chi phí đẩy lạm phát. Đối với người dân, lạm phát sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến những người có thu nhập thấp và trung bình ở khu vực thành thị. Để vượt qua thời kỳ lạm phát tăng cao, những người có thu nhập trung bình và thấp cần hết sức thận trọng trong chi tiêu vì không có nhiều khoản thu nhập thụ động ngoài lương. Họ cần lên kế hoạch chi tiêu rõ ràng và chỉ chi tiêu vào những mục đích thực sự cần thiết. Điều cần thiết là phải bảo vệ tài sản và tiền bạc của bạn để vượt qua thời kỳ lạm phát.

Thứ hai là tránh đầu tư dàn trải trong thời kỳ lạm phát. Nhiều lý thuyết trong kinh tế học và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và giá của các tài sản tài chính như cổ phiếu. Tức là khi lạm phát tăng, giá cổ phiếu sẽ giảm. Đối với những người có thu nhập thấp và trung bình, đầu tư không phải là việc cần làm trong thời kỳ lạm phát. Việc vay nợ cũng là một tệ nạn trong thời kỳ bão giá đối với các đối tượng trên. Thông thường, các chính phủ sẽ kiểm soát lạm phát bằng cách tăng lãi suất và thắt chặt chính sách tiền tệ. Việc vay vốn vào thời điểm này sẽ gia tăng áp lực và gánh nặng trả nợ đối với các hộ gia đình có thu nhập cố định.

Về phía các doanh nghiệp, các doanh nghiệp cũng cần kiểm soát chi tiêu và có chính sách điều chỉnh giá linh hoạt. Chính sách giá bán phải phù hợp với tình hình lạm phát và sức mua của người dân tại từng thời điểm. Tiếp theo, doanh nghiệp có thể xem xét tập trung vào các sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao trong thời kỳ lạm phát.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các loại nguyên liệu đầu vào khác để thay thế cho các loại nguyên liệu đang sử dụng. Khi lạm phát xảy ra, giá cả của tất cả các hàng hóa không tăng như nhau; một số mặt hàng tăng ít hơn những mặt hàng khác. Do đó, doanh nghiệp có thể sử dụng các giải pháp thay thế rẻ hơn để tiết kiệm chi phí.

“Việc vay vốn và đầu tư vào các dự án cũng không được khuyến khích vì rủi ro và chi phí đi vay sẽ cao hơn trong thời kỳ lạm phát. Đối với những doanh nghiệp có năng lực tài chính kém, việc bảo toàn vốn sẽ quan trọng hơn là phát triển trong thời điểm lạm phát cao ”- TS Tùng nhấn mạnh.

Written by 

Leave a Reply

Your email address will not be published.